11152018Thứ 5
Last updateThứ 4, 14 11 2018 7am

NHỮNG THÀNH TỰU CỦA CHẶNG ĐƯỜNG 30 NĂM ĐỔI MỚI VỀ TƯ DUY KINH TẾ CỦA ĐẢNG TA

0
0
0
s2smodern
powered by social2s

     Trong 30 năm đổi mới của đất nước, chúng ta đãđạt được những thành tựu to lớn là nhờ có Đảng ta lãnh đạo sáng suốt và do Đảng ta đã luôn luôn chủ động, sáng tạo trong đổi mới nói chung và đổi tư duy về kinh tế nói riêng. Đường lối và chính sách đổi mới từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đã đặt cơ sở, nền tảng ban đầu cho giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta. Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, trong đó có đổi mới tư duy về kinh tế. Tìm hiểu đổi mới tư duy lý luận và thực tiễn trong kinh tế trong 30 năm, sẽ giúp chúng ta thấy khâu đột phá trong đổi mới kinh tế của Đảng ta.

     Về lý luận:

     Đại hội VI đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt nhấn mạnh đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật đã tạo ra bước ngoặt trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta là từ chỗ chưa thừa nhận sản xuất hàng hoá, cơ chế thị trường, sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, xem kế hoạch là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa... đến nay Đảng ta đã xác định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và coi đây là mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong mô hình này, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng có sự thay đổi mạnh mẽ, từ chỗ tiến hành theo kiểu khép kín, hướng nội, thiên về phát triển công nghiệp nặng, chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên, đất đai, nguồn viện trợ của các nước XHCN anh em, nay đã chuyển sang mô hình kinh tế mở, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, gắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với từng bước phát triển kinh tế tri thức. Cơ chế vận hành nền kinh tế cũng có sự thay đổi căn bản. Từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, đã chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, cạnh tranh lành mạnh. Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cũng được định hình rõ nét, theo đó, lợi ích phát triển kinh tế của đất nước là mục tiêu, kiên trì nguyên tắc bảo đảm độc lập, tự chủ quốc gia, bình đẳng tự chủ trong quan hệ kinh tế quốc tế, nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng. Thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại và gắn kinh tế nước ta với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Tại Đại hội XI, Đảng ta xác định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia - dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

     Về thực tiễn:

     Đường lối đổi mới đã đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình và đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển.

     Trong suốt 30 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới. Sau giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) với mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4%, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua gần 20 năm với mức tăng trưởng rất ấn tượng: giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân tăng 8,2%/năm gấp đôi so với 5 năm trước đó; giai đoạn 5 năm tiếp theo 1996-2000, mặc dù cùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính khu vực (1997-1999), GDP vẫn duy trì bình quân tăng 7,6%/ năm. Giai đoạn 2001-2005, GDP tăng bình quân 7,51%; giai đoạn 2006-2010, do suy giảm kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,32%/năm. Trong các năm tiếp theo, do chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và khủng hoảng nợ công 2010, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn (2011 – 2015) của Việt Nam tuy đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,75%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% cuối năm 2010 còn 9,6% cuối năm 2012, cuối năm 2013 xuống còn 7,8% và năm 2014 xuống còn 5,8%. Thành tựu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu cắt băng khánh thành công trình Thủy điện Sơn La. (Nguồn: Internet)

     Về cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1986 là 46,3%, năm 2005 còn 20,9%, năm 2014 còn 17,7%; cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu. Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, đã tập trung phát triển các ngành có hàm lượng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 60,2% năm 2010 lên khoảng 78% năm 2013.

     Trong 30 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế. Tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết WTO.  Cho đến nay, nước ta đã có 59 quốc gia công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Việt Nam đã ký kết 10 Hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương.


Cầu Nhật Tân và đường dẫn 2 đầu cầu có tổng mức đầu tư khoảng 13,6 ngàn tỷ đồng (Nguồn: Internet)

     Có thể nói, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, Đảng ta đã phân tích thực tiễn để đi tới những kết luận mới, xây dựng những quan điểm lý luận mới do chính thực tiễn của đất nước và mục tiêu cách mạng đề ra. Sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tạo những tiền đề quan trọng trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao... Những thành tựu to lớn trên đã chứng tỏ tư duy lý luận về kinh tế của Đảng ta là phản ánh đúng đắn quy luật khách quan và phù hợp với thực tiễn cách mạng của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

     Tài liệu tham khảo chính:

     1. Báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII, ngày 20/10/2014.

     2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI. Nxb Chính trị Quốc gia.

     3. Nguyễn Phú Trọng, Đổi mới và phát triển Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, 2008.