10232019Thứ 4
Last updateThứ 4, 23 10 2019 8am

TỪ NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN ĐẾN PHONG TỤC TẬP QUÁN ĐÓN XUÂN CỦA NGƯỜI VIỆT

0
0
0
s2smodern
powered by social2s

don tet 2019

don tet 20192

Ảnh: không khí Tết cổ truyền ngày xưa (nguồn: Internet)

Trong tâm thức mỗi người dân Việt, mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm. Và ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt - Tết Nguyên Đán - cũng nằm trong tiết trời xuân đẹp đẽ ấy. Ở Việt Nam, Tết Nguyên Đán (còn gọi và Tết cổ truyền, Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch hay có thể gọi ngắn gọn là Tết) là lễ hội quan trọng và lớn nhất. Kho tàng văn học dân gian Việt Nam hiện tồn rất nhiều câu ca dao, tục ngữ hay về ngày Tết, chẳng hạn như: Mồng một chơi cửa, chơi nhà / Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình / Mồng bốn chơi chợ Quả Linh / Mồng năm chợ Trình, mồng sáu non Côi / Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi / Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng,… Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với gia tộc, với cộng đồng và với cảnh vật thiên nhiên.

Theo các tài liệu nghiên cứu về văn hóa cổ thì nguyên nghĩa của chữ "Tết" chính là "tiết". Hai chữ "Nguyên Đán" có gốc chữ Hán: "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán" (Tết Nguyên Đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên). Do cách tính của Âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người Việt Nam không hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác. Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng Giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng Chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau. Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng Giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa. Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có thêm lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng một cho đến hết ngày mồng bảy.

Người Việt Nam có rất nhiều phong tục đẹp vào ngày Tết Nguyên Đán. Trước tiên là tục cúng ông Táo. Hàng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, người Việt Nam lại có tục cúng ông Táo. Ông Táo hay còn gọi là Thần Bếp, có trách nhiệm theo dõi mọi việc xảy ra trong gia đình rồi trình báo cho Trời. Năm nào cũng vậy, cứ vào ngày 23 tháng Chạp, nhà nào cũng thu dọn nhà cửa, bếp sạch sẽ rồi làm lễ cúng tiễn ông Táo lên trời, nhờ ông báo cáo những điều tốt đẹp để một năm mới bình an và may mắn. Theo lệ, lễ cúng ông Táo được đặt trong bếp và phải có cá chép vì tục truyền rằng ông Táo cưỡi cá chép để lên trời.

Thứ hai là tục thăm mộ tổ tiên. Thường vào sáng ngày 30 Tết, con cháu trong gia đình các gia đình người Việt sẽ cùng nhau đi thăm viếng, làm sạch đẹp nơi an nghỉ của ông bà tổ tiên và người thân của mình. Đây là một phong tục phổ biến của người Việt, thể hiện đạo hiếu, lòng kính trọng đối với đấng sinh thành và các bậc tổ tiên đã khuất.

Thứ ba là tục cúng tổ tiên. Đây là lễ mời ông bà về ăn Tết với con cháu. Chiều ngày 30 tháng Chạp, trên bàn thờ tổ tiên được bày 1 mâm cỗ bao gồm trái cây và một câm cơm canh đủ đầy. Người gia trưởng thắp hương dâng lên bàn thờ, cầu xin tổ tiên chứng giám và phù hộ cho gia tộc được nhiều phước lành trong năm mới. Theo sau đó mọi người trong gia tộc đều chắp tay cung kính thỉnh vong linh ông bà về ăn Tết.

Thứ tư là tục cúng giao thừa. Cúng giao thừa thường phải làm hai lễ, một lễ cúng trong nhà và một lễ cúng ngoài trời. Sở dĩ người Việt Nam làm lễ cúng giao thừa vì niềm tin rằng một năm bắt đầu thì phải có kết thúc. Ý nghĩa của buổi lễ đó là người Việt muốn bỏ đi những điều không hay trong năm cũ và chào đón năm mới đến với nhiều tài lộc và những điều tốt đẹp.

Thứ năm là tục hái lộc đầu xuân. Hái lộc đầu xuân là nét đẹp truyền thống trong năm mới của người Việt. Hái lộc thường được thực hiện vào đêm giao thừa hoặc sáng sớm mùng 1 Tết để cầu may mắn, rước lộc vào nhà.

Thứ sáu là tục xông nhà năm mới. Nguyên Đán có nghĩa là buổi sáng đầu tiên của năm. Đó là lúc mọi thứ đều được bắt đầu, mới mẻ tinh khôi. Chính vì vậy, sau thời điểm giao thừa lúc, người khách đầu tiên đến thăm gia chủ trong năm mới là người "xông nhà", là sứ giả do sự may mắn đưa đến. Theo quan niệm dân gian, người xông đất có ảnh hưởng quan trọng đến hậu vận của cả nhà trong năm mới. Do đó, gia chủ thường cân nhắc rất kĩ về tuổi tác, nhân phẩm, tính tình của người được mời đến xông nhà.

Thứ bảy là tục chơi hoa ngày Tết. Miền Bắc thường chọn cành đào để cắm trên bàn thờ hoặc cây đào trang trí trong nhà, bởi hoa đào chứa đựng sinh khí mạnh, sắc đào là màu may mắn, như lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân.

Miền Trung và miền Nam lại hay dùng cành mai vàng. Màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao sang, màu vàng còn tượng trưng cho vua chúa (thời phong kiến). Màu vàng thuộc hành Thổ trong Ngũ hành, theo quan điểm người Việt, Thổ nằm ở vị trí trung tâm và màu vàng được tượng trưng cho sự phát triển nòi giống. Ngoài hai loại hoa đặc trưng cho Tết là đào và mai, hầu như nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng và hoa trang trí. Hoa thờ cúng có thể như hoa vạn thọ, cúc, lay ơn, hoa huệ. Cây quất thường được trang trí tại phòng khách, cây quất với lộc xanh mơn mởn, hoa trắng lốm đốm, quả chín vàng ươm, tròn trịa tượng trưng cho sự sinh sôi và thịnh vượng.

Thứ tám là tục gói bánh chưng, bánh tét. Bánh chưng, bánh tét là phong tục thưởng thức ẩm thực Tết vô cùng đẹp của dân tộc ta. Các gia đình thường gói bánh chưng từ những ngày 27, 28, 29 Tết, đây cũng là một món quà biếu ý nghĩa cho họ hàng và bạn bè trong dịp này.

Ngoài các phong tục trên, trong ngày Tết Nguyên Đán của dân tộc Việt còn rất nhiều phong tục đẹp khác như: tục chúc Tết, tục xuất hành, tục xin chữ đầu xuân,…                        

 Tân xuân 2019 đã bắt đầu và Tết Nguyên Đán đang đến thật gần trên khắp các nẻo đường quê Việt. Trong không khí ấy, thầy và trò Trường Đại học Tây Bắc cũng đang từng bước chuyển mình để hòa cùng vận hội mới, một mùa xuân đầy hi vọng. Với sự nỗ lực trong dựng xây, tinh thần đoàn kết bền chặt, lòng yêu nghề và yêu đời cháy bỏng, tập thể Nhà trường đang từng bước hoàn thiện mình và hứa hẹn một năm mới thành công, thịnh vượng.