06272019Thứ 5
Last updateChủ nhật, 23 06 2019 8pm

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC QUA 5 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 29/NQ-T.Ư

0
0
0
s2smodern
powered by social2s

NDĐT- Sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 29/NQ-T.Ư về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, giáo dục đại học đạt được một số thành tựu quan trọng.

Giáo dục đại học qua 5 năm thực hiện Nghị quyết 29/NQ-T.Ư

Giáo dục đại học Việt Nam đã hội nhập và tiếp cận các chuẩn mực quốc tế

Theo nhận định của GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, ĐH Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), có thể thấy chưa bao giờ giáo dục của Việt Nam đổi mới nhanh và mạnh mẽ, tiếp cận các chuẩn mực của quốc tế như những năm qua. Minh chứng rõ nhất cho nhận định này là những kết quả trong việc kiểm định chất lượng giáo dục đại học, xếp hạng đại học.

Đến nay, hầu hết tất cả các cơ sở giáo dục đại học đều đã có đơn vị chuyên trách về bảo đảm chất lượng. Hơn 86% cơ sở giáo dục đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) quản lý đã thành lập được đơn vị chuyên trách về bảo đảm chất lượng, một số trường còn lại giao một số cán bộ phụ trách hoạt động bảo đảm chất lượng.

Theo số liệu của Bộ GD-ĐT, đã có sáu trường được tổ chức kiểm định quốc tế công nhận, trong đó có năm trường được công nhận bởi HCERES (Hội đồng Cấp cao về Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp); hai trường được công nhận bởi AUN-QA (Mạng lưới bảo đảm chất lượng các trường đại học ASEAN).

Công tác kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam đã định hướng theo các tiêu chí chuẩn mực của khu vực và thế giới. Trong những năm gần đây, hoạt động kiểm định đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhất là các cấp quản lý giáo dục, các nhà trường được tiếp cận với mô hình quản lý hiện đại, tiên tiến. Qua tự đánh giá, đánh giá ngoài nhiều nhà trường đã thấy được điểm mạnh, điểm yếu và đã xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng xác thực và hiệu quả hơn. Các cơ sở giáo dục đã thay đổi cách nhìn nhận về công tác quản lý và chỉ đạo, tăng cường năng lực quản lý nhà trường và quản lý dạy, học. Kiểm định chất lượng giáo dục tạo động lực cho công tác đánh giá nói chung, góp phần quan trong thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục và hội nhập với thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam,vào năm 2018 có hai đại học vào danh sách xếp hạng 1.000 trường hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS.

"Có thể thấy những thành tựu về kiểm định chất lượng và xếp hạng đại học là minh chứng cho sự thành công, sự chuyển mình, cho sự đổi mới toàn diện và hội nhập của giáo dục đại học Việt Nam với quốc tế trong thời gian qua" - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức khẳng định.

Giáo dục đại học Việt Nam đang có sự chuyển biến và đột phá chuyển biến về chất lượng theo các yêu cầu và chuẩn trình độ quốc tế. Công bố quốc tế, chất lượng đội ngũ giảng viên và chất lượng người học ở bậc đại học và sau đại học đã có những bước nhảy vọt, đột phá

Trong 5 năm qua, Bộ GD-ĐT đã ban hành Quy chế mới về đào tạo đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, trong đó chuyển đổi hoàn toàn từ đào tạo niên chế sang tín chỉ và yêu cầu xác định chuẩn đầu ra của từng chương trình đào tạo. Chất lượng đầu ra của người học về ngoại ngữ và chuyên môn đều yêu cầu cao hơn so với trước đây. Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo còn yêu cầu phải trang bị kiến thức về CNTT và các kỹ năng mềm cho người học.

Trước đây, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn kết chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu thường chỉ được chú trọng ở các đại học lớn. Sau khi có Nghị quyết 29/NQ-T.Ưhoạt động đào tạo gắn với nghiên cứu được nhiều trường đại học quan tâm. Các trường đại học đã chú trọng xây dựng các nhóm nghiên cứu (NNC) để tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế.

Chất lượng đội ngũ giảng viên tăng lên từng bước, từng năm theo chuẩn quốc tế: quy chế mới yêu cầu GS, PGS và cả các NCS khi bảo vệ luận án đều phải có công bố quốc tế. Hiện, 80% các NCS trong lĩnh vực KHTN-CN của Đại học quốc gia Hà Nội; nhiều NCS của Trường đại học Bách Khoa Hà Nội, Trường đại học Y Hà Nội, Trường đại học Tôn Đức Thắng, Trường đại học Duy Tân và nhiều trường đại học khác khi bảo vệ luận án TS đều đã có công bố quốc tế ISI.

Công bố quốc tế của Việt Nam đã đặc biệt tăng mạnh trong ba năm gần đây. Thống kê chưa chính thức từ 2017 đến tháng 6-2018, riêng các công bố quốc tế của 30 trường đại học Việt Nam đạt 10.515 bài, trong khi cả giai đoạn 2011-2015 toàn bộ các trường đại học Việt Nam, chỉ có hơn 10.000 bài.

Chăm lo đào tạo và bồi dưỡng nhân tài; có sự chuyển dịch mạnh mẽ và kịp thời cơ cấu ngành nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0

Bên cạnh các chương trình đào tạo chuẩn, Bộ GD-ĐT còn chỉ đạo các trường đại học tích cực triển khai các chương trình đào tạo tài năng, tiên tiến, chất lượng cao để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Chương trình tài năng đào tạo cử nhân, kỹ sư có năng khiếu trong lĩnh vực khoa học cơ bản (cử nhân tài năng) và kỹ thuật công nghệ (kỹ sư tài năng). Chương trình đào tạo tiên tiến là các chương trình đào tạo bậc đại học, áp dụng cho các ngành khoa học tự nhiên-công nghệ, sử dụng toàn bộ chương trình, giáo trình của một đại học nước ngoài, giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh, do Bộ GD-ĐT phê duyệt và cấp kinh phí triển khai thực hiện. Đội ngũ giảng viên tham gia chương trình là của Việt Nam và một số giảng viên nước ngoài, nhằm phát triển quốc tế hóa chương trình đào tạo, đáp ứng nguồn nhân lực toàn cầu. Bên cạnh đó, với chương trình 911, 322, chúng ta đã cử đi đào tạo hàng nghìn trí thức trẻ, ưu tú ở nước ngoài.

Giáo dục đại học Việt Nam bước đầu đã có sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề phù hợp nhằm hướng tới đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao trong giai đoạn mới. Năm học 2016-2017, tổng quy mô sinh viên (SV) đại học là hơn 1,7 triệu SV, quy mô SV cao đẳng sư phạm giảm 14,3%, chỉ còn 47.800 SV. Phần lớn SV tập trung theo học các ngành thuộc Khối ngành V, III: Toán và thống kê; Máy tính và công nghệ thông tin; Công nghệ kỹ thuật; Kỹ thuật; Sản xuất chế biến; Kiến trúc và xây dựng, Nông lâm và thuỷ sản; Thú y và khối ngành: Kinh doanh quản lý, Pháp luật.

Năm 2016-2017, tổng số ngành mở mới ở trình độ ĐH là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành: Kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học xã hội và hành vi, Kinh doanh quản lý, Pháp luật.

Một số ngành mới khác như: an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, robotic, khoa học dữ liệu, công nghệ hàng không vũ trụ đã được mở ở ĐHQGHN; các ngành tự động hóa, CNTT, khoa học máy tính, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano,...được giảng dạy và đào tạo ở nhiều trường đại học trong cả nước, cho thấy ngành giáo dục đại học của Việt Nam đang bắt nhịp được với xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.0 đang diễn ra trên thế giới.