12102018Thứ 2
Last updateChủ nhật, 09 12 2018 12am

NHỮNG BẬC "PHU TỬ" TRONG LỊCH SỬ THỜI PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM

0
0
0
s2smodern
powered by social2s

“Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kì một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác” (Usinxki)

Ôn cố tri tân (học cái cũ để biết cái mới), từ lâu đã trở thành một trong những phương châm đối với giáo dục ở Việt Nam. Học cái cũ không có nghĩa là học cái lạc hậu, lỗi thời mà là học những cái căn bản, cái tinh hoa của người xưa để lại. Dòng chảy của lịch sử nhân loại nói chung và của Việt Nam nói riêng đã minh chứng một cách chân thực và sinh động về hình tượng người thầy, về vai trò của nghề giáo. Nghề giáo là một nghề cao quý được cả xã hội tôn vinh. Người thầy là những người trực tiếp khai tâm, rèn đức, luyện tài, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội. Có thể nhận thấy: xã hội dù rộng lớn, đa dạng nhưng ở bất cứ lĩnh vực nào, công việc nào và thời đại nào thì cũng đều rất cần đến người thầy. Lịch sử thời phong kiến ở Việt Nam đã để lại dấu ấn của nhiều danh nhân - nhà giáo có ảnh hưởng sâu sắc không chỉ đối với một thời đại mà còn tỏa bóng đến nhiều thời đại sau này. Trong số những  nhà giáo nổi tiếng ấy, ở Việt Nam có ba người thầy được học trò và xã hội suy tôn là phu tử. Đó là Chu phu tử - Chu Văn An; Tuyết Giang phu tử - Nguyễn Bỉnh Khiêm và La Sơn phu tử - Nguyễn Thiếp.  

“Phu tử”  (夫子) theo Từ điển tiếng Việt giải thích là từ “học trò dùng để gọi tôn thầy học của mình trong thời phong kiến”. Từ điển Hán Nôm giải thích “phu tử” là “tiếng dùng để chỉ một vị nam giới, thường là dùng cho bậc hiền triết”. Như vậy, “phu tử” là một từ có nội hàm và ngoại diên hẹp, chỉ dành riêng để suy tôn những người thầy lớn của một thời đại hay của một quốc gia dân tộc.      

1. Chu Văn An (1292 - 1370) tự là Linh Triệt, hiệu là Tiều Ẩn, người thôn Văn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là Thanh Trì), Hà Nội. Ông thi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) nhưng không ra làm quan mà ở nhà mở trường dạy học tại làng Huỳnh Cung bên sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay). Đời vua Trần Minh Tông, Chu Văn An được mời ra giữ chức Tư nghiệp (Hiệu trưởng) Trường Quốc Tử Giám. Ông là thầy giáo của thái tử Trần Vượng (vua Trần Hiến Tông) sau này. Chu Văn An được vua Trần và các học trò tôn là Chu phu tử. Học trò của ông có nhiều người đỗ đạt, giữ chức vị cao trong triều đình nhà Trần. Đại Việt Sử kí toàn thư do Ngô Sỹ Liên chép về Chu Văn An như sau: “An (người Thanh Đàm), tính cương nghị, thẳng thắn, sửa mình trong sạch, bền giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc. Ông ở nhà đọc sách, học vấn tinh thông, nổi tiếng gần xa, học trò đầy cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa, vào chính phủ. Như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát đã làm hành khiển mà vẫn giữ lễ học trò, khi đến thăm thầy thì lạy hỏi ở dưới giường, được nói chuyện với thầy vài câu rồi đi xa thì lấy làm mừng lắm. Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la hét không cho vào. Ông là người trong sạch, thẳng thắn, nghiêm nghị, lẫm liệt đáng sợ đến như vậy đấy”.

Họ tên của nhà giáo Chu Văn An được đặt cho nhiều đường phố trên khắp đất nước Việt Nam. Tại thành phố Sơn La, đường Chu Văn An (bao gồm hai nhánh) là con đường dẫn vào Trường Đại học Tây Bắc từ quốc lộ 6. Chu Văn An còn là tên một trường học -  Trường TH, THCS & THPT Chu Văn An, trực thuộc Trường Đại học Tây Bắc.

cacbacphututhoipk

2. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), tên huý là Nguyễn Văn Đạt, tên tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân am cư sĩ. Ông sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Phòng). Từ nhỏ ông đã là người có tướng mạo khôi ngô tuấn tú, có trí nhớ hơn người. Ông thi đỗ Trạng nguyên (1535) và làm quan một thời gian dưới thời vua Mạc Đăng Doanh. Sau khi dâng sớ hạch tội 18 tên gian thần dưới triều Mạc nhưng bị từ chối, ông từ quan về ở ẩn, mở trường dạy học và trở thành một nhà giáo lỗi lạc. Học trò của ông có những người rất nổi tiếng như Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, Nguyễn Văn Chính… Ông được các học trò suy tôn là Tuyết Giang phu tử (người thầy sông Tuyết). Tuy không tham gia chính trị nhưng với học vấn uyên thâm và kiến văn sâu sắc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được các tập đoàn phong kiến và các nhân vật danh tiếng thời bấy giờ kính trọng. Các giai thoại để lại vẫn nhắc đến Nguyễn Bỉnh Khiêm trong việc khuyên chúa Trịnh phò tá vua Lê, khuyên nhà Mạc lúc suy vong chạy lên đất Cao Bằng hay khuyên Nguyễn Hoàng nam tiến để xây dựng cơ đồ… Có thể đánh giá Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trí thức nổi bật của thế kỉ XVI ở Việt Nam, một biểu tượng của học vấn uyên thâm, tinh thông Nho học và lí số.

3. Nguyễn Thiếp (1723 – 1804), tên húy là Minh, tự là Quang Thiếp, sau vì kiêng húy vua nên bỏ chữ Quang, chỉ còn là Thiếp. Ông được người đời và học trò suy tôn là La Sơn phu tử. Thuở nhỏ, Nguyễn Thiếp được rèn rũa và trau dồi học vấn trong gia đình người chú ruột là tiến sĩ Nguyễn Hành, vì thế mà ông có điều kiện học hỏi để trở thành con người có vốn tri thức uyên bác. Năm 1744, Nguyễn Thiếp thi hương tại Nghệ An và đỗ thủ khoa. Năm 1748, ông tham gia kì thi hội, vào đến tam trường nhưng không đỗ giải nguyên, ông được bổ chức quan huấn đạo (chức quan trông coi việc học trong một huyện) ở Anh Sơn, Nghệ An. Năm 1768, ông từ quan về ở ẩn tại núi Thiên Nhẫn trên quê hương mình và chuyên tâm cho việc dạy học. Khi Quang Trung lên ngôi hoàng đế, nhà vua đã 3 lần trực tiếp đến mời Nguyễn Thiếp ra giúp triều đình Tây Sơn nhưng ông đều từ chối. Đến lần thứ 4 (1791), cảm động trước tấm chân tình của hoàng đế Quang Trung, ông đã đồng ý ra giúp vua. Ông dâng lên triều đình một bản tấu bàn về 3 vấn đề: Một là "Quân đức" (đại ý khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền để trị nước); hai là "Dân tâm" (đại ý khuyên vua nên dùng nhân chính để thu phục lòng người), và ba là "Học pháp" (đại ý khuyên vua chăm lo việc giáo dục). Tuy là ba, nhưng chúng có quan hệ mật thiết với nhau và đều lấy quan niệm "dân là gốc nước" làm cơ sở. Như vậy, có thể thấy cuộc đời của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp là cuộc đời của một nhà giáo sống trong thời kì lịch sử đầy biến động nhưng ông vẫn giữ trọn được nhân cách cao khiết của một nhà nho chân chính. Dù lúc làm quan dưới triều đình Tây Sơn hay khi ở ẩn tại quê nhà thì ông vẫn dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục, bồi dưỡng nhân tài nhằm xây dựng một quốc gia cường thịnh. Nhà sử học Phan Huy Chú trong tác phẩm Văn tịch chí khen Nguyễn Thiếp: “là người có đức, các tao nhân ngâm khách (khác) không thể sánh được”.

Như vậy có thể thấy, cuộc đời và sự nghiệp của ba nhà giáo Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp là cuộc đời của ba danh nhân trong lịch sử. Ở họ, dù có người dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp dạy học mà không ra làm quan như Chu Văn An, có người giữ chức vị cao trong triều đình và đào tạo được nhiều học trò trở thành rường cột của quốc gia như Nguyễn Bỉnh Khiêm hay có người đề xuất ra những tư tưởng xuất chúng về giáo dục như Nguyễn Thiếp thì ở họ đều có một điểm chung là những người thầy đạo cao, đức trọng.

Ngày nay, ngày 20 tháng 11 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của ngành giáo dục, là ngày dành để tôn vinh, tri ân công lao dạy dỗ của các thầy cô giáo. Với những người công tác trong ngành giáo dục, có lẽ món quà lớn nhất và có ý nghĩa nhất chính là sự trưởng thành của các thế hệ học trò. Ngày 20 tháng 11, đón nhận những tình cảm chân thành từ các thế hệ học trò, cũng là khoảng thời gian các nhà giáo tĩnh tâm nhìn lại về trọng trách lớn lao của mình khi được xã hội giao phó và tôn vinh. Ngưỡng mộ những người thầy lớn trong lịch sử; kính trọng những người thầy đã đào tạo ra mình; coi trọng kiến thức và phương pháp truyền thụ trong đào tạo; trân trọng những người đồng nghiệp; quý trọng những thế hệ học trò có lẽ đang là một phương châm sống đẹp và đầy ý nghĩa mà nhiều nhà giáo đã và đang lựa chọn cho sự nghiệp của mình.