01222018Thứ 2
Last updateThứ 3, 16 01 2018 8am

CẢM NHẬN VỀ NỀN VĂN HÓA, VỀ ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI LÀO

Truyện xưa kể lại rằng: Từ thuở đoàn người chui ra từ quả bầu khổng lồ đến nay đã sinh con đẻ cháu nhiều như cát ven sông, như đá cuội dưới  nước nhưng Khủn khom và Khủn khon được Thẻn Luổng cử xuống cai quản mường Trần (tức mường Lùm) lại chỉ lo ăn chơi khiến cho cuộc sống của muôn dân không được sung túc. Thẻn Luổng cử Khủn Bo lum con trai của Thẻn luổng xuống cai quản, xây dựng mường Trần. Khủn Bo lum đã xuống mường Trần tổ chức phân chia người dân thành  các nhóm,  phân chia đất đai  thành các vùng cho dễ cai quản. Sau đó Thẻn Luổng cử Khủn Tèn xuống mường Trần dạy cho dân biết cách làm ăn sinh sống như trồng lúa, trồng cây ăn quả, trồng dâu nuôi tằm và dệt vải... định ra ngày giỗ, ngày lễ trong năm; cử Khủn Phen xuống dạy cho dân biết âm nhạc, múa hát, làm được các dụng cụ âm nhạc như khèn bè, sáo, đàn, tiêu, trống... khi thấy con người dưới mường Trần đã có thể lo liệu lấy cuộc sống của mình nên ra lệnh chặt đứt dây Khảu cạt- chiếc cầu thang lên mường Thẻn. Từ đó con người không thể lên mường Thẻn và các Khủn cũng không thể xuống trần gian được nữa. Dưới Mường Trần, Khủn Bo lum cùng dân chúng xây dựng một cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Sự hình thành của đất nước Lào, quá trình xây dựng bản mường cổ của dân tộc Lào đã được truyền kể trong truyền thuyết dân gian như vậy đấy. Mặc dù đó là một câu truyện mang đậm yếu tố hoang đường huyền thoại nhưng nếu như chưa một lần tìm hiểu về nguồn cội đất nước, con người và văn hóa Lào, thông qua truyền thuyết này ta cũng có thể hiểu thêm về sự xuất hiện và quá trình khai thiên lập địa của tổ tiên người Lào ra sao; vì sao đất nước Lào là một quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa gốc là văn hóa nông nghiệp, tại sao người dân Lào có thể say mê ca hát và lăm vông như vậy. Câu chuyện truyền thuyết trên chỉ là khởi phát để ta có thể có ham muốn đọc thêm tư liệu về đất nước Lào để thâu lượm những tri thức đầy xác thực liên quan đến đất nước, văn hóa và con người Lào, từ đó khắc sâu thêm tình cảm tốt đẹp đối với dân tộc Lào.

Nước Lào- còn gọi là đất nước Triệu voi (Lạn xạng) nằm sâu trên bán đảo đông Dương, là một quốc gia không giáp với biển, có hơn 3/4 đất đai là rừng núi. Nước Lào có diện tích khoảng 236,800 Km2; phía bắc giáp Trung Quốc, tây bắc giáp Myanma, tây  giáp Thái Lan, nam giáp Campuchia, đông giáp Việt Nam. Địa thế đất Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh, đỉnh cao nhất là Phou Bia ( cao 2,817 m). Khí hậu nhiệt đới chia hai mùa rõ rệt. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5-11 trong năm, mùa  khô kéo dài từ tháng 12- 4 năm sau. Có thể nói rừng gắn liền mật thiết với đời sống kinh tế, xã hội và cuộc sống tinh thần từ xưa đến nay của người Lào nên mọi cư dân Lào đều có một niềm ham thú đặc biệt là đi rừng (đơn đông) đã tạo nên một sắc thái văn hóa rất đặc trưng, một đời sống tâm hồn độc đáo ở khu vực này.

Trải qua các giai đoạn thăng trầm trong lịch sử, cuối cùng vào ngày 2/1//1975, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thành lập và chính thức ổn định duy trì thể chế chính trị tới ngày nay. Từ đó ngày 2/12 đã trở thành ngày quốc khánh của đất nước Lào với địa giới ổn định và quốc kì chính thức.

vhdncnL

Bản đồ đất nước Lào

Quốc kì Lào

Cũng bởi địa hình rừng núi hiểm trở, đi lại khó khăn nên người Lào giao lưu, tiếp xúc với thế giới bên ngoài khá muộn, nhất là với các nền văn hóa lớn phương Đông như văn hóa Trung Quốc, Ấn Độ. Hầu hết là sự tiếp thu ảnh hưởng giao thoa văn hóa ấy chủ yếu thông qua quốc gia trung gian khác.

Nói đến nền văn hóa Lào là nói đến nền văn hóa Phật giáo, đất nước của chùa tháp và lễ hội. Lịch sử  đạo Phật du nhập vào đất nước Lào được truyền tụng gắn liền với câu chuyện tình của vua Phà Ngừm và công chúa Kiều Lạc của vương quốc Cam puchia. Ông từng là người hung bạo, tham quyền cố vị nhưng khi kết hôn với công chúa Kiều Lạc - một người chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng đạo Phật thì ông đã hoàn toàn thay đổi. Truyện kể rằng: khi công chúa sang Lào, thấy dân chúng thời đó sùng bái quỉ thần, mê tín dị đoan thường hiến tế phụ nữ cho các quỉ thần nên bà đã khuyên nhà vua can thiệp, đưa Phật giáo vào nhằm giúp dân chúng thay đổi tín ngưỡng nêu không nhà vua khó có thể trị vì lâu dài. Vua Phà Ngừm nghe theo. Nhà vua đã cho xây cất chùa Pasamanerama ở phía bắc hoàng cung để các cao tăng ngụ, thuyết pháp cho hoàng thân quốc thích và quan lại trong triều, xây thêm các chùa nhỏ để cho dân chúng thờ cúng nhờ đó dần xóa nhòa được niềm tin mù quáng vào quỉ thần. Có thể nói công lao đưa Đạo Phật vào đất nước Lào chính là của công chúa Kiều Lạc. Nàng chính là nhân tố thúc đẩy Phật giáo trở thành quốc giáo và ảnh hưởng nhiều đến đạo đức, lối sống của người dân Lào mà trước hết là vua Phà Ngừm. Nhà vua này đã thay đổi tâm tính rất nhiều, trở thành một vị vua được nhân dân yêu mến. Đất nước dưới sự trị vì của ông đã dần trở nên hưng thịnh.         

Là đất nước của Đạo Phật nên trên khắp đất nước Lào xinh đẹp cũng không ít những thắng cảnh nổi tiếng, những vùng núi hoang sơ và các vùng quê thanh bình. Những kiến trúc cổ kính, trang nghiêm của chùa tháp có ở khắp các bản mường trên đất nước Lào. Điển hình là ở giữa lòng thủ đô Viêng Chăn có tháp Thatluong trang nghiêm, có chùa Sisaket, chùa Hophakeo…, ở cố đô Luông Pha Băng có chùa Xiengthong, còn nổi tiếng ở nam Lào là Wat Phu tỉnh Pakse. Và còn có rất nhiều ngôi chùa nổi tiếng khác…vv

Tháp Thạt Luổng biểu tượng của quốc gia Phật giáo Lào, đồng thời cũng là một di sản văn hóa thế giới. Thạt Luông hay (Pha) That Luang (Thạt Lớn trong tiếng Lào) được xây từ năm 1566 trên phế tích của ngôi đền Ấn Độ thế kỷ 13, mặt ngoài được dát vàng. Thạt Luổng có 1 tháp lớn và 30 tháp nhỏ vây quanh tượng trưng cho 30 năm tu hành của đức Phật. Tương truyền xá lị của đức Phật nằm tại nơi đây. Đây cũng chính là tháp xá lị lớn nhất và đẹp nhất ở Lào.

Tháp Thạt Luổng - biểu tượng của đất nước Lào.

Patuxay nằm cuối đại lộ Lạn Xạng (Triệu Voi) hay đại lộ Thạt Luổng về phía đông bắc thủ đô Viêng Chăn, là một biểu tượng chiến thắng của người Lào.

Hầu hết khách du lịch khi đến với thủ đô của đất nước Lào đều dành thời gian ghé thăm Patuxay, nơi được xem là biểu tượng của thành phố này. Patuxay (hay Patuxai) được người dân đất nước Triệu Voi ví như "khải hoàn môn" của thành phố. Công trình được xây dựng để vinh danh những chiến sĩ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Lào.

Patuxay

WatPhou là đền thờ xưa nhất ở Lào, được UNESCO công nhận là Di sản thế giới năm 2001. Ngôi đền cổ này có niên đại từ thế kỷ thứ 5, từng là trung tâm của đạo Hindu, thờ thần Shiva. Wat Phou còn được gọi là "chùa Núi" bởi nó tọa lạc dưới chân núi Phou Kao (núi Voi), tỉnh Champasak, cách thủ đô Viêng Chăn khoảng 670km về phía Nam.

WatPhou là đền thờ xưa nhất ở Lào

Văn hóa Lào có nhiều điểm tương đồng với Thái Lan. Đó là nền văn hóa Phật giáo. Đạo Phật du nhập vào đất nước Lào trong triều vua Dvarati và thịnh hành trên đất nước Lào trong suốt thời kì vương quốc Lạn Xạng. Ngay từ thế kỉ XIV, đạo Phật đã trở thành quốc giá (dân số Lào có trên 6 triệu người nhưng có tới 90% dân số theo đạo Phật). Lào là xứ sở của Phật giáo tiểu thừa và là đất nước có tỉ lệ chùa cao nhất trên thế giới so với dân số. Trên đất nước Lào có tới 1.400 ngôi chùa lớn nhỏ. Có nhiều ngôi chùa trở thành danh thắng nổi tiếng hàng năm thu hút rất nhiều du khách tới tham quan như: Thạt Luổng, Sisaket,Hophakeo ( ở thủ đô Viêng Chăn; chùa Xiêng thong ở cố đô Luông Pha Băng; vùng Nam Lào có chùa Watphu ở Pakse... Có thể thấy ở Lào chùa gắn với  trường học và gắn với cả đời; sư sãi trong chùa ăn ở như dân dã. Tư tưởng Phật giáo ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân Lào, chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống tinh thần, văn hóa của người dân Lào tạo nên một nền văn hóa Lào rất riêng. Người Lào sống luôn tuân theo lời dạy của đức Phật nên có xu hướng hướng thiện. Sống chan hòa với tâm niệm từ bi hỷ xả; rất tôn trọng các tăng ni, phật tử, những vị sư sãi trong chùa. Các phật tử Lào thường tích đức bằng những hoạt động gọi là “Thiện nguyện” vào những dịp lễ tết, lễ hội.

Cũng như rất nhiều các quốc gia trong khu vực, nền ẩm thực của Lào đa dạng không kém, tất cả đều mang hương vị vừa quen lại vừa lạ, quen vì các nguyên liệu không quá khó tìm, nhưng lạ vì cách chế biến tinh tế và rất đặc trưng. Người Lào ăn gạo là chính, các món ăn có đặc điểm là dùng những gia vị như gừng, me, lá chanh và nhiều loại ớt khô rất cay. Vị chính trong các món ăn hầu hết đều có nhiều ớt. Chỉ riêng ớt có hàng chục món: từ ớt chiên giòn, ớt muối chua, ớt sa tế, ớt hầm, ớt luộc… Món ăn của người Lào là sự pha trộn giữa cay và ngọt. Người Lào đặc biệt thích ăn các món nướng, tất cả những thực phẩm mà có thể nấu được bằng cách nướng thì họ đều sử dụng, từ thịt, cá đến cả rau củ và gia vị làm nên nét ẩm thực đầy quyến rũ các thực khách. Khi đến tham quan đất nước Lào bạn hãy thưởng thức các món nướng từ nguyên liệu gần gũi, hoang dã như gà nướng, cá suối nướng, heo rừng, nai… các món lạp hòa quyện với khẩu vị cay nồng ảnh hưởng Thái Lan mà uống với bia Lào thì thật tuyệt.

Các món ăn đặc trưng của Lào

(http//dbnd.quang ngai.gov.vn/i 3244 nhưng cảm nhan ve dat nươc,con người và văn hoa Lào)

 Lào là một đất nước hiền hoà thơ mộng tô điểm bởi dòng Mê Kông như một món trang sức quý giá còn tiềm ẩn chưa được khám phá của du khách bốn phương. Hiện nay, du khách muốn đến Lào có thể bằng máy bay nếu muốn tiết kiệm được thời gian, và nếu muốn trải nghiệm mới về thiên nhiên hoang dã thì hành trình khám đường mòn Đông Dương bằng xe là sự lựa chọn tốt nhất. Khi đi du lịch Lào, du khách sẽ cảm thấy gần gũi, vui vẻ như chính ngôi nhà của mình bởi người Lào hiền hòa, vui tính, hiếu khách. Du lịch Lào không chỉ đặc sắc, hấp dẫn bởi các lễ hội truyền thống lễ hội Bunpimay (tết Lào), tết Hmông  mà còn bởi các lễ hội diễn ra điều đặn. 

Lào được coi là đất nước của những lễ hội, hầu như tháng nào trong năm cũng có lễ hội. Tháng 1 có Bunphavet  (Phật hóa thân), tháng 4 có Bunvisaka (Lễ Phật Đản), Bunpimay (Tết té nước), tháng 5 có Bunphayphay (Pháo thăng thiên), tháng 7 có Bunkhaophansa (Lễ ăn chay), tháng 9 có Bungkhaopadapdin (Lễ hội tưởng nhớ người đã mất), tháng 10 có Bunsuanghua (Lễ hội đua thuyền).

Lễ hội ở Lào gọi là “Bun”. “Bun” có nghĩa là “phước”, “làm bun” nghĩa là “làm phước”. Cũng như nhiều nước khác trong khu vực Đông Nam Á, lễ hội Lào chia làm hai phần, phần lễ và phần hội. Phần Lễ: thực hiện các nghi lễ do con người đặt ra để giao cảm với thần linh; phần Hội là vui chơi giải trí.

Lễ hội lớn nhất trong năm mà bất cứ người dân Lào ở đâu cũng khát khao chờ đợi là lễ hội có tên là Bunpimay. Đây là tết cổ truyền của dân tộc Lào, tết này diễn ra từ 13/4 đến 16/4 hàng năm. Trong lễ hội này, té nước được xem là nghi lễ nổi bật nhất, đặc sắc nhât. Người dân Lào té nước để cầu mưa cho mùa màng bội thu, cầu may mắn và hạnh phúc cho con người, cầu cho cây cối đâm chồi nẩy lộc, cầu bình yên cho suốt cả năm.

Bắt đầu từ chiều 13/4 người Lào thường tập trung ở chùa để làm lễ cúng Phật, cầu nguyện, nghe các nhà sư giảng đạo, sau đó rước tượng Phật ra một gian riêng trong 3 ngày và mở cửa để mọi người vào tắm Phật (té nước cho các tượng Phật). Nước tắm Phật  thường là nước thơm sau khi tưới lên các tượng Phật sẽ được hứng lại mang về nhà để sức vào người làm phước. Sau nghi lễ tắm Phật thì té nước vào người các nhà sư, té nước cho các cây cối trong chùa, cho mọi người xung quanh. Ngoài ra ở các gia đình người ta còn té nước vào nhà cửa, đồ thờ cúng, súc vật, công cụ sản xuất trong các gia đình. Tuy nhiên trong xã hội hiện đại, ở các thành phố lớn người ta chỉ thực hiện nghi lễ té nước một cách tượng trưng như rảy nước thơm hay nước có hoa để làm phép; riêng vùng nông thôn, các bản mường thì giữ nguyên lệ tục cũ dùng nước sạch và nước mưa để té vào người và vật. Theo tục lệ ai được té nước nhiều nhất thì càng gặp nhiều may mắn trong năm mới nên ai cũng thích được tham dự vào lễ hội té nước này với hy vọng mình có được nhiều may mắn.Cũng trong những ngày lễ tết cổ truyền này, người Lào còn xây tháp cát, phóng sinh, ăn món lạp, đi hái hoa tươi và buộc chỉ cổ tay.

Khi xây tháp cát, người dân thường mang cát đến sân chùa, xây thành tháp, trang trí bằng hoa, cờ, dây vải trắng và vẩy nước thơm. Các tháp này tượng trưng cho phoukaokailat- nơi bảy người con gái của Kabinlaphon thờ đầu cha của mình. Sau khi trang trí, tháp cát được dân lên cho các nhà sư để  bày tỏ lòng thành kính, tháp được các nhà sư dâng cúng cầu sức khỏe, hạnh phúc trong năm mới cho.

Người dân Lào cũng thường thực hiện nghi lễ phóng sinh, thường là phóng sinh các loài vật  quen thuộc như rùa, chim, lương, cá và các con vật nhỏ khác với ý nghĩa trả tự do cho muôn loài, thể hiện tư tưởng nhân văn của đạo Phật và lối sống thiện lương của dân tộc Lào.

Hoa tươi được xem là điềm may mắn nên thường được sử dụng nhiều trong các ngày tết cổ truyền ở Lào. Vào những buổi chiều, sư trụ trì tại các chùa trong vùng thường hướng dẫn các ni cô và dân làng đi hái hoa tươi đem về chùa cúng Phật. Khi hái hoa thường kèm theo chơi trống hội và các nhạc cụ cổ truyền làm cho không khí lễ hội hái hoa thêm rộn rã. Loài hoa không thể thiếu trong các ngày tết Bunpimay của Lào là hoa Chăm pa và hoa Muồng. Hoa Chăm pa thường được kết thành chùm, cài trên tóc để cầu điều phước lành. Hoa Muồng (còn gọi là hoa Bọ cạp vàng, hoa Hoàng Hậu) thường được người dân cột vào xe, treo trên nhà để cầu may trong năm mới.

Lạp là một món ăn được chú trọng nhất trong ngày lễ hội. “Lạp” theo tiếng Lào có nghĩa là “lộc”. Vào ngày tết Bunpimay người Lào thường làm món lạp bằng thịt gà và thịt bò tươi trộn với các gia vị, đặc biệt là phải có thính  trộn vào thì mới ngon. Món Lạp được xem như linh hồn của người Lào trong năm mới. Người ta có thể đem làm quà biếu, quà chúc mừng năm mới cho gia đình các bạn bè, người thân, gia đình nào nhận được nhiều món quà này thì sẽ gặp nhiêu may mắn trong năm nên rất được trân trọng, đặc biệt là với các doanh nhân. Theo tập tục, ngày đầu tiên lễ Bunpimay (15/4 dương lịch) mọi người đón năm mới bằng nghi lễ buộc chỉ cổ tay (lễ Ba xỉ). Khách đến xông nhà được chủ nhà buộc vào cổ tay một sợi chỉ xanh hoặc đỏ biểu tượng cho hạnh phúc, sức khỏe. Lễ buộc chỉ cổ tay  thường được tổ chức lớn nhỏ tùy theo từng gia đình nhưng không thể thiếu trong tết cổ truyền của Lào.

Có thể thấy, Lễ Bunpimay là lễ hội truyền thống độc đáo nhất trong văn hóa lễ hội của dân tộc Lào. Nó có ý nghĩa như một sợi dây liên kết mọi thành viên trong gia đình, cộng đồng bản mường, xã hội thành một khối đại đoàn kết thống nhất trong nhịp sống yêu thương chan hòa tình thân ái.

Nước Lào - là một trong “các quốc gia trẻ” ở khu vực Đông Nam Á, một quốc gia đa dân tộc, bộ tộc (phầu). Quốc gia dân tộc Lào được hợp thành bởi 3 nhóm dân tộc lớn theo địa hình cư ngụ và sinh sống: Người Lào Thơng sống ở rẻo giữa hay lưng chừng vùng núi, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me; người lào Lùm sống ở vùng đồng bằng, thuộc nhóm ngôn ngữ Lào - Thái; người Lào Xủng sống ở vùng núi cao, thuộc nhóm ngôn ngữ  Mèo - Dao - Tạng - Miến.

Theo huyền thoại Lào thì các giống người ở Lào đều sinh ra từ một quả bầu: Người Lào Thơng sinh ra đầu tiên được coi là anh cả; người Lào Lùm sinh ra tiếp theo được coi là anh thứ; người Lào Xủng sinh ra sau cùng được coi là em út. Sau khi phân chia những người cùng chui ra từ bụng quả bầu thành từng nhóm xong Khủn pulanxơng dạy bảo mọi người phải ghi nhớ: “Tất cả đều chui ra từ ruột một quả bầu giống như chui ra từ một bụng mẹ, phải biết yêu thương nhau, quí mến nhau, gọi nhau là anh em. Người ra trước được gọi là anh, người ra sau là em”. Có lẽ vì vậy mà từ đó tất cả các dân tộc Lào thuộc ba nhóm Lào Thơng, Lào Lùm, Lào xủng mặc dù ở đâu, xa hay gần họ vẫn coi nhau là anh em ruột thịt, vẫn đi lại thăm hỏi nhau và gặp gỡ nhau, ăn cùng mâm, ngủ chung nhà sẵn sàng giúp đỡ nhau khi hoạn nạn, cùng chia sẻ niềm vui trong cuộc sống và trong những ngày lễ tết hội hè.

Người Lào không chỉ trọng tâm mà cũng rất trọng đức vì thế trong đời sống họ luôn tâm niệm và răn dạy con cháu tu tâm tích đức không làm điều ác, điều dữ

  • Ở hãy làm điều lành

Đi hãy làm điều nhớ

  • Ở cho người ta khen

Đi cho người ta nhớ

Không về cho người ta nhắc

  • Tóc không nhiều hãy độn thêm tóc

Bà con không nhiều hãy thêm bạn thêm bè

(Xú pha xít)

Cũng vì thế mà người lào có bản tính rất hiền lành, thật thà, chất phác, dễ mến và trọng danh dự. Tính cách ấy biểu hiện rõ trên ánh mắt, nụ cười, cử chỉ và dáng điệu của mỗi con người. Người Lào gặp nhau, người dưới chắp tay chào người trên; trẻ em chắp tay chào người lớn, họ không lớn tiếng cãi nhau. Đặc biệt họ rất quý trọng tình bạn, quý trọng chữ tín. Đây cũng là nét văn hóa, phong tục đặc sắc của người Lào. Người Lào cũng rất chất phác thật thà, ngay cả trong buôn bán. Khi buôn bán, hàng hóa được bày ra bán, nếu chủ nhân không có mặt, người mua có thể chọn hàng mình cần và để lại số tiền với giá trị tương ứng. Vì coi trọng danh dự nên người Lào rất ít gây gổ trong chợ, đặc biệt không bao giờ trêu ghẹo người thân, bạn gái hay vợ của người khác vì cho đó là hành vi khiếm nhã.

Đến thăm đất nước Lào ta sẽ thấy một dân tộc Lào có cuộc sống tinh thần rất phong phú. Điều này thể hiện rõ trong truyền thống yêu thích ca hát. Âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt cộng đồng người Lào. Có thể nói “ăn xôi, thổi khèn và ở nhà sàn” là đặc trưng của văn hóa Lào cổ truyền.

Với một đất nước không rộng, người không đông như Lào nhưng có tới hàng trăm điệu lăm (dân ca), khắp (hò) khác nhau cùng tồn tại và phát triển. Hầu như mỗi nhóm dân tộc Lào, mỗi địa phương đều có những làn điệu lăm riêng.

Các tỉnh phía Nam Lào được xem là quê hương của những điệu lăm nổi tiếng. Ở tỉnh Chăm pa xắc có lăm Xì phăn đon, lăm Bạn thôồng. Ở tỉnh Xả văn nạ khệt có lăm Khón xá vẳn, lăm Bạn xoọc, lăm Phụ thay, lăm Tặng vái, lăn Tăm lói. Ở tỉnh Xá nạ văn có lăm Xá nạ văn. Ở tỉnh Khăm muồn có lăm Mạ há xay... Tuy nhiên nói đến các điệu lăm nổi tiếng trên đất nước Lào không thể không nhắc tới ba điệu lăm tiêu biểu sau: lăm vay, lăm loòng, lăm tợi. Ba điệu lăm này có thể ca tách rời nhau nhưng cũng có thể ca liền mạch theo thể liên hoàn với nhau theo trình tự: lăm vay- lăm loòng- lăm tợi.

Phía Tây Nam tỉnh Xiêng khoảng là thủ đô Viêng chăn, nơi đây có dòng sống Nậm Ngừm chảy qua, cũng là quê hương của điệu khắp Ngừm nổi tiếng từ xa xưa. Đây là điệu khắp thích hợp với vùng sông nước giống như điệu hò sống nước ở Việt Nam vậy.

Từ lâu đời nay, người dân Lào từ trẻ đến già, trai gái, nông thôn hay thành thị đều rất say mê các điệu lăm, điệu khắp của đất nước quê hương mình. Cho dù hiện tại có rất nhiều loại nhạc mới tràn vào ngập từ các nước Âu, Á, Mỹ, Phi nhưng trong các dịp lễ hội dân tộc hay tôn giáo, sinh hoạt cộng đồng tập thể nơi thu hút nhất với người dân Lào vẫn là những điệu điệu dân ca truyền thống ấy. Người Lào hát dân ca trong lao động sản xuất như hái nấm, bẻ măng, xuôi ngược trên các dòng sông hoặc ngồi chòi canh ngô lúa trên ruộng rẫy. Người Lào khắp, lăm trong các lễ hội hàng năm. Trong lễ hội Bun pi may, người Lào vừa té nước vừa múa lăm vông; đi hái hoa cũng vừa đánh trống vừa thổi khèn. Điều đó cho thấy, văn nghệ là một tập tục trong sinh hoạt cộng đồng của người Lào. Và văn nghệ Lào luôn gắn với các loại nhạc cụ truyền thống dân tộc đặc trưng của dân tộc Lào. Âm nhạc của Lào chịu ảnh hưởng lớn của các nhạc cụ dân tộc như khèn (một dạng của ống tre. Một dàn nhạc (mor lam) điển hình bao gồm người thổi khèn (mor khaen) cùng với biểu diễn múa bởi nghệ sĩ khác. Múa Lăm vông (Lam saravane) là thể loại phổ biến nhất của âm nhạc Lào, những người Lào ở Thái Lan đã phát triển và phổ biến rộng rãi trên thế giới gọi là morlamsing.
Từ ngàn đời nay những làn điệu khắp lăm vùng Sầm nứa (Hủa phăn) vẫn vang vọng khắp núi rừng vùng Tây Bắc Lào và lan tỏa tới các bản mường giáp biên giới tỉnh Hủa Phăn. Giai điệu mượt mà, êm ái khiến cho con trai con gái Lào, gái Thái, gái Mông hai vùng biên giới bâng khuâng xao xuyến:

Anh yêu em

Phải rồi...anh yêu em

Chẳng phải mới hôm nay, hôm qua đâu

Yêu từ khi quả dưa chưa có phấn

Yêu từ khi quả vải chưa ra hoa

Yêu từ khi cha mẹ bế ẵm mớm cơm

Dưới ánh mặt trời...

Qua tiếp cận với một số điệu lăm, khắp tiêu biểu của dân tộc Lào ta có thể thấy lăm khắp của Lào vô cùng phong phú và đa dạng. Nó phản chiếu một đời sống tinh thần, tâm hồn phong phú, trữ tình của người dân nước Lào xinh đẹp, làm nên sức sống của nền văn hóa, văn nghệ dân gian trên mảnh đất Triệu voi này.

Trải qua hàng ngàn năm chung sống trên mảnh đất Triệu voi nhân dân các dân tộc Lào đã sáng tạo ra một nền văn hóa đa dạng phong phú mang đậm bản sắc dân tộc. Cả ba nhóm Lào Thơng, Lào Xủng, Lào Lùm đều có những nét văn hóa riêng nhưng tất cả đã hội tụ lại thành tinh hoa của một nền văn hóa Phật giáo mang đậm bản sắc cổ truyền phản chiếu nét đẹp tâm hồn của con dân đất nước Lào tươi đẹp.